 |
| The Forbidden City |
|
|
Tử Cấm Thành (紫禁城) Bắc Kinh, Trung Quốc hay Cố Cung (故宮) (theo cách gọi ngày nay), nằm ngay giữa trung tâm thành phố Bắc Kinh trước đây, là cung điện của các triều đại từ giữa nhà Minh đến cuối nhà Thanh Trung Quốc. Viện bảo tàng nằm trong Cố Cung được gọi là Viện bảo tàng Cố Cung (故宫博物院, Cố cung bác vật viện). Diện tích Tử Cấm Thành là 720.000 m², gồm 800 cung và 8.886 pḥng. Do đó, UNESCO đă xếp Cố Cung vào loại quần thể cổ bằng gỗ lớn nhất thế giới và được công nhận là Di sản thế giới tại Trung Quốc vào năm 1987 với tên gọi là Cung điện triều Minh và triều Thanh tại Bắc Kinh và Thẩm Dương (tiếng Anh: Imperial Palace of the Ming and Qing Dynasties in Beijing and Shenyang). Khu Tử Cấm Thành tọa lạc tại chính nam của Quảng trường Thiên An Môn. Có thể đi vào Cố Cung qua Thiên An Môn. Tử Cấm Thành được hoàng thành bao bọc xung quanh. Các số liệu thực tế: Diện tích: 250.000 m² Số công tŕnh: 800 Số pḥng: 8.886 Số nhân lực ước tính: 1.000.000 Tử Cấm Thành được thiết kế bởi nhiều kiến trúc sư và nhà thiết kế. Kiến trúc sư trưởng là Cai Xin và thái giám Nguyễn An,một người Việt Nam, c̣n tổng công tŕnh sư là Kuai Xiang và Lu Xiang.
|
 |
| Shang Hai |
|
|
Ngày nay, Thượng Hải có hải cảng sầm uất nhất thế giới, hơn cả cảng Singapore và Rotterdam. Xuất phát là một làng chài hẻo lánh, Thượng Hải đă trở thành một thành phố quan trọng bậc nhất cho đến Thế kỷ 20, và là trung tâm văn hóa phổ thông, các mưu đồ chính trị và nơi tụ họp của giới trí thức trong thời kỳ Trung Hoa dân quốc. Thượng Hải đă từng một thời là trung tâm tài chính lớn thứ 3 thế giới, chỉ xếp sau Thành phố New York và Luân Đôn, và là trung tâm thương mại lớn nhất Viễn Đông cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Sau khi Mao Trạch Đông cầm quyền Trung Quốc kể từ năm 1949, Thượng Hải đă đi vào thời kỳ sụt giảm tốc độ phát triển do chế độ thuế má cao và do sự triệt thoát kinh tế tư bản của chính quyền mới. Nhờ sự cải cách, mở cửa theo mô h́nh kinh tế thị trường do Đặng Tiểu B́nh khởi xướng và lănh đạo mà đặc biệt là từ năm 1992, Thượng Hải đă có những bước bứt phá ngoạn mục về phát triển kinh tế và nhanh chóng vượt qua Thâm Quyến và Quảng Châu - một thành phố đặc khu được tự do hóa sớm nhất Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa để trở thành đầu tàu kinh tế Trung Quốc. Vẫn c̣n nhiều thách thức cho thành phố này đầu thế kỷ 21 như nạn di dân ồ ạt và sự phân hóa giàu nghèo. Tuy nhiên, bất chấp những thách thức đó, các khu nhà chọc trời và cuộc sống đô thị sôi động của Thượng Hải vẫn là biểu tượng của sự thần kỳ kinh tế Trung Quốc.
Nhà chọc trời Tháp Trung tâm Tài chính Thế giới Thượng Hải là ṭa nhà chọc trời cao nhất ở thành phố này và cũng là tháp cao nhất Trung Quốc đại lục, cao thứ 5 thế giới. Ngoài ra c̣n có các công tŕnh kiến trúc nổi bật khác như Tháp Minh Châu Phương Đông và Tháp Kim Mậu. Thuọng Hải là thành phố chủ nhà của Hội chợ Thế giới Expo 2010 tổ chức vào giữa tháng 5 đến tháng 10 2010.
Tháp truyền h́nh Minh Châu (Hán tự: 明珠, 明 là sáng, 珠 là ngọc, nghĩa là viên ngọc sáng) là tháp truyền h́nh cao thứ ba thế giới - sau tháp truyền h́nh ở Toronto (Canada) và Moscow (Nga) - nó cao tới 468 mét. Mặc dù vậy, bạn chỉ có thể tham quan tại 350 mét trở xuống. Tháp có hệ thống thang máy rất nhanh (10m/s). Ở độ cao 263 mét là một khu sân h́nh tṛn. Đây là nơi để du khách ngắm toàn cảnh Thượng Hải.
|
 |
| Shen Zhen |
|
|
Thâm Quyến (Tiếng Hoa: 深圳; pinyin: Shēnzhèn; Hakka:cim1 zun4; Cantonese Jyutping: sam1 zan3; Yale: sām jan) là thành phố trực thuộc tỉnh của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Thâm Quyến nghĩa là "con lạch sâu" nhưng hay bị gọi sai thành Thẩm Quyến. Hiện nay c̣n có sông Thâm Quyến (Thâm Quyến hà) ngăn Thâm Quyến với Hồng Kông. Đặc khu kinh tế Thâm Quyến có diện tích 2.050 km², dân số năm 2007 là 8,6 triệu người (kể cả vùng đô thị là 13 triệu), GDP 676,5 tỷ nhân dân tệ. Thành phố giáp biên giới với Hồng Kông, cách Quảng Châu 160 km về phía nam. Cảng Thâm Quyến là một trong những cảng tấp nập nhất Trung Quốc, chỉ sau cảng Thượng Hải. Trong 30 năm qua, Thâm Quyến đă thu hút trên 30 tỷ USD đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp bên ngoài.
Cảng Thâm Quyến nằm kề cảng Hồng Kông (cách 20 hải lư). Năm 2005, cảng này xếp thứ 4 thế giới về khối lượng container (16,2 triệu TEU). Sân bay Thâm Quyến cách trung tâm thành phố 35 km có các chuyến bay quốc tế. Đường sắt và đường bộ hiện đại nối liền với Hồng Kông và các thành phố khác của Trung Quốc. Tàu điện ngầm bắt đầu vận hành từ ngày 27 tháng 12 năm 2004, có 2 tuyến. Từ Thâm Quyến có thể đi Châu Hải, Ma Cao, Hồng Kông, Sân bay Chek Lap Kok bằng tàu thủy cao tốc.
|
 |
| Xi'An |
|
|
Tây An (tiếng Hoa: 西安; pinyin: Xī'ān; Wade-Giles: Hsi-An) là thành phố tỉnh lỵ tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Đây là thành phố trực thuộc tỉnh. Tây An là một trong 4 kinh đô trong lịch sử Trung Hoa, là kinh đô của 13 triều đại, bao gồm: nhà Chu, nhà Tần, nhà Hán và nhà Đường[1] Tây An cũng là điểm kết thúc phía đông của Con đường tơ lụa huyền thoại. Thành phố có lịch sử hơn 3100 năm với tên gọi trong thời đấy Tràng An hay Trường An (tiếng Hoa phồn thể: 長安; tiếng Hoa giản thể: 长安; pinyin: Cháng'ān; có nghĩa là "muôn đời b́nh yên"). Tây An là thành phố lớn nhất và phát triển nhất trong khu vực miền Trung đến Đông Bắc và xếp thứ 10 trong các thành phố lớn nhất Trung Quốc.
Nhà Chu lập đô tại Phong (灃/沣 Feng) và Hạo (鎬/镐 Hao) giữa cuối thế kỷ 11 và năm 770 trước Công nguyên. Cả 2 địa điểm này đều nằm phía tây của Tây An. Nhà Tần (221-206 trước Công nguyên) xây đô ở Hàm Dương, bờ bắc sông Hoài, sau đó bị Hạng Vũ cho thiêu rụi vào cuối đời nhà Tần. Năm 202 trước Công nguyên: Lưu Bang, Hán Cao Tổ, thành lập Thành Trường an làm kinh đô. Cung Trường Lạc (tiếng Hoa phồn thể: 長樂宮; tiếng Hoa giản thể: 长乐宫) được xây dựng dọc hai bên sông trên khu phế tích của thành nhà Tần. Đây được xem là ngày thành lập của thành phố Tây An. 200 trước Công nguyên: Lưu Bang cho xây Cung Vị Trung (未央宫) ở Trường An. 194 trước Công nguyên: Khởi công xây dựng tường thành đầu tiên của Tràng An. Thành dài 25,7 km, dày 12-16 m tại đáy, diện tích: 36 km². Năm 190 sau Công nguyên: Nhà Đông Hán dời triều đ́nh từ Tràng An đến Lạc Dương . Năm 582: Hoàng đế nhà Tùy ra lệnh xây đô mới ở Đông Nam kinh đô nhà Hán, gọi là Đại Hưng (大興 Daxing). Thành gồm 3 phần: Cung điện, Tử Cấm Thành và khu vực dân cư. Diện tích trong thành: 84 km². Thành được dổi tên là Tràng An. Thế kỷ thứ 7: Đường Tăng Tam Tạng lập một khu dịch thuật kinh khổng lồ để dịch Kinh Phật từ tiếng Phạn sang chữ Hán sau khi thỉnh kinh từ Ấn Độ về. Năm 652: Xây dựng Tháp Đại Nhạn (大雁塔) cao 64 m dùng để chứa bản dịch Kinh phật của Đường Tăng Tam Tạng. Tháp chuông Tây An 707: Thuộc Tháp Tiểu Nhạn (小雁塔) cao 45 m, sau trận động đất năm 1556, chiều cao giảm c̣n 43,4 m. Năm 904: Kết thúc nhà Đường kéo theo sự phá hủy Trường An. Cư dân của thành bị lùa về Lạc Dương - kinh đô mới. Năm 1370: Nhà Minh xây một thành mới nhỏ hơn (khoảng 12 km²), chu vi: 11,9 km, cao: 12 m và dày 15-18 m tại chân thành. Tháng 10 năm 1911, trong thời kỳ cách mạng lật đổ nhà Thanh, những người Măn Châu sống ở khu đông bắc trong thành đă bị thảm sát. Năm 1936, sự kiện Tây An đă diễn ra trong thành của thành phố trong nội chiến Trung Quốc. Sự kiện này đă khiến Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc thoả thuận đ́nh chiến để tập trung đánh quân Nhật Bản. Đây cũng là nơi có Phố Hồi giáo lớn. Nơi tham quan cho du khách nổi bật: Trường An Bát Cảnh (chữ Hán phồn thể: 長安八景; chữ Hán giản thể: 长安八景).
|
|